Quá trình lọc trong xử lý nước cấp

Lọc nước là quá trình  cho nước đi qua lớp vật liệu có chiều dày nhất định đủ để giữ lại trên bề mặt hoặc giữa các khe hở của vật liệu lọc các hạt cặn và vi khuẩn trong nước, gồm: lọc đơn dòng và lọc dòng ngang.

Hàm lượng cặn sau khi qua bể lọc phải nhỏ hơn 3mg/l

Sau một thời gian hoạt động, lớp vật liệu lọc bị nghẹt làm tốc độ lọc giảm dần thì . Rửa lọc là quá trình loại bỏ cặn bẩn ra khỏi lớp vật liệu lọc để khôi phục khả năng lọc của vật liệu lọc 

Tốc độ lọc là lượng nước qua một đơn vị diện tích của bể lọc trong một đơn vị thời gian

Chu kỳ lọc là khoảng thời gian giữa 2 lần rửa lọc.

qua trinh loc nuoc bang than hoat tinh

Phân loại bể lọc:

- Theo tốc độ lọc:

• Lọc nhanh 

• Lọc chậm

• Lọc cao tốc

- Theo chế độ dòng chảy:

• Lọc trọng lực

• Lọc áp lực

- Theo chiều dòng nước

• Lọc xuôi chiều

• Lọc ngược chiều

• Lọc hai chiều

- Theo số lớp vật liệu 

• Bể lọc một lớp

• Bể lọc nhiều lớp

- Theo cấu tạo lớp vật liệu:

• Bể lọc có vật liệu dạng hạt

• Bể lọc dạng lưới

• Bể lọc có màng lọc

- Theo kích cỡ hạt vật liệu:

• Hạt nhỏ:<0.4mm

• Hạt vừa:0.4 – 0.8mm

• Hạt thô:>0.8mm

Các vật liệu lọc thường được sử dụng: sỏi lọc, cát thạch anh, cát mangan, đá Birm, than hoạt tính, nhựa trao đổi ion,…..

BỂ LỌC TIẾP XÚC

Bể lọc tiếp xúc sử dụng trong dây chuyền công nghệ xử lý nước mặt có dùng chất phản ứng đối với nguồn nước có hàm lượng cặn đến 150mg/l và độ màu đến 150 (nước hồ) với công suất bất kỳ hoặc khử sắt trong nước ngầm cho trạm xử lý có công suất đến 10.000m3/ngđ

Khi dùng bể lọc tiếp xúc, dây chuyền công nghệ xử lý nước mặt sẽ không cần bể phản ứng và bể lắng. Còn dây chuyền khử sắt không cần lắng tiếp xúc.

Trong bể lọc tiếp xúc, quá trình lọc xảy ra theo chiều từ dưới lên. Nước đã pha phèn theo ống dẫn nước vào bể qua hệ thống phân phối nước lọc, qua lớp cát lọc rồi tràn vào máng thu nước và theo đường ống dẫn nước sạch sang bể chứa.

Chất bẩn giữ lại trong khe rỗng và bám trên bề mặt hạt vật liệu lọc. Sau 1 thời gian làm việc, lớp vật liệu lọc bẩn, trở lực tăng lên, đến 1 lúc nào đó lớp vật liệu lọc hết khả năng làm việc, khi đó phải tiến hành rửa vật liệu lọc.

Khi rửa bể lọc tiếp xúc, nước rửa theo đường ống dẫn nước rửa (nếu rửa nước thuần tuý) và gió theo đường ống dẫn gió (nếu rửa bằng gió nước kết hợp) vào hệ thống phân phối thổi tung lớp cát lọc, mang cặn bẩn tràn vào máng thu nước rửa và chảy vào mương thoát nước

Như vậy, khi lọc và khi rửa nước đều đi ngược chiều từ dưới lên trên.

Máng thu nước lọc đồng thời cũng là máng thu nước rửa lọc. Vì nước lọc lấy ra ở phía trên, nên mặt bể phải đậy kín bằng nắp đậy để tránh nhiễm bẩn, nhiễm trùng nước trở lại. Trên nóc bể phải bố trí cửa có nắp đậy để lên xuống thau rửa hoặc sửa chữa và phải có ống thông hơi cho bể.

Vật liệu lọc phải là cát thạch anh hoặc sỏi hoặc các loại vật liệu khác đáp ứng được yêu cầu sử dụng và không bị lơ lửng trong quá trình lọc nước

Thời gian 1 chu kỳ lọc ứng với tốc độ lọc tính toán không nhỏ hơn 8 giờ

Khi sửa chữa 1 bể lọc, những bể còn lại làm việc ở chế độ tăng cường với tốc độ lọc không quá 6m/h, thời gian 1 chu kỳ làm việc không nhỏ hơn 6 giờ.

Hệ thống phân phối nước rửa lọc dùng hệ thống phân phối trở lực lớn có hoặc không có lớp sỏi đỡ. Nước rửa bể lọc tiếp xúc có thể dùng nước sạch hoặc chưa sạch. Rửa nước chưa sạch phải đảm bảo độ đục không quá 10mg/l; chỉ số coliform không quá 1000CFU/lít và có khử trùng.