XỬ LÝ AMONI TRONG NƯỚC

Hiện nay, tình trạng ô nhiễm nguồn nước trong quá trình sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và trong sinh hoạt đang diễn ra khá trầm trọng. Trong đó việc nhiễm Amoni trong nước được hầu hết các tỉnh thành trong cả nước quan tâm.

Vậy amoni là gì?


Amoni có công thức hóa học NH3, là chất khí không màu và có mùi khai. Trong nước, Amoni tồn tại dưới 2 dạng là NH3 và NH4+. Tổng NH3 và NH4+ được gọi là tổng Amoni tự do. Đối với nước uống, tổng Amoni sẽ bao gồm amoni tự do, monochloramine (NH2Cl), dichloramine (NHCl2) và trichloramine.
Vậy nguyên nhân tạo ra Amoni trong nước là gì?
Có 4 nguyên nhân chủ yếu làm cho hàm lượng Amoni trong nước tăng cao, đó là:
•    Khí thải công nghiệp, nhà máy, chất thải từ các bệnh viện, lò giết mổ động vật thải chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt được mức độ an toàn đã thải ra môi trường khiến nguồn nước mặt bị ô nhiễm một cách nặngnặn.
•    Do thói quen trong sản xuất, dùng quá nhiều thuốc trừ sâu, phân bón hóa học
•    Đường ống nước bị vỡ bị sự cố nứt làm giải phóng Nitơ trong bùn đất, làm cho hàm lượng Nitơ trong nước ngầm ngày càng cao
•    Khi nước ngầm bị khai thác mạnh nhưng lượng nước mới chưa bổ sung kịp, sẽ làm xuất hiện những chiếc phễu hút nước trên các tầng nước mặt, các nước từ sông hồ, ao, đen ngòm, đặc quánh chất bẩn sẽ ngấm dần xuống mạch nước ngầm.
Nhận biết Amoni trong nước: Amoni không tồn tại lâu trong nước mà dễ dàng chuyển thành nitrite. Nitrite trong nước sẽ ức chế men enzim trong thịt cản trở quá trình chuyển màu của thịt. Vì thế, thịt khi nấu trong nước có nhiễm amoni chín nhừ vẫn giữ màu như thịt sống. Ngoài ra, với những mẫu nước nhiễm amoni từ 20mg/l trở lên có thể ngửi thấy mùi khai”.
Hậu quả của nguồn nước nhiễm Amoni
Đối với con người:
•    Bản thân Amoni không quá độc với cơ thể, nhưng nếu tồn tại trong nước với hàm lượng vượt quá tiêu chuẩn cho phép, nó có thể chuyển hóa thành các chất gây ung thư và các bệnh nguy hiểm khác. Các nghiên cứu cho thấy, 1g amoni khi chuyển hóa hết sẽ tạo thành 2,7 g nitrit và 3,65 g nitrat. Trong khi hàm lượng cho phép của nitrit là 0,1 mg/lít và nitrat là 10-50 mg/lít.
•    Amoni là một trong những yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nước cấp: làm giảm tác dụng của clo, giảm hiệu quả khử trung nước do phản ứng với clo tạo thành monocloamin là chất sát trùng thứ cấp hiệu quả kém clo hơn 100 lần. Amoni cùng với các chất vi lượng trong nước (hợp chất hữu cơ, phốt pho, sắt, mangan…) là “thức ăn” để vi khuẩn phát triển, gây ảnh hưởng tới chất lượng nước sau xử lý. Nước có thể bị đục, đóng cặn trong hệ thống dẫn, chứa nước. Nước bị xuống cấp, làm giảm các yếu tố cảm quan ( NH4+ là nguồn dinh dưỡng để rêu tảo phát triển, vi sinh vật phát triển trong đường ống gây ăn mòn, rò rỉ  và mất mỹ quan).
•    Khi ăn uống nước có chứa nitrit, cơ thể sẽ hấp thu nitrit vào máu và chất này sẽ tranh oxy của hồng cầu làm hêmoglobin mất khả năng lấy oxy, dẫn đến tình trạng thiếu máu, xanh da. Vì vậy, nitrit đặc biệt nguy hiểm cho trẻ mới sinh dưới sáu tháng, nó có thể làm chậm sự phát triển, gây bệnh ở đường hô hấp, trẻ bị xanh xao, ốm yếu, thiếu máu, khó thở do thiếu oxi trong máu. Đối với người lớn, nitrit kết hợp với các axit amin trong thực phẩm làm thành một họ chất nitrosamin. Nitrosamin có thể gây tổn thương di truyền tế bào – nguyên nhân gây bệnh ung thư
Đối với động vật:
•    Khi nồng độ amoni trong nước cao, rất dễ tạo thành các nitrat (NO2-), nitrit (NO3-). Trong cơ thể động vật, nitrit và nitrat có thể biến thành N – nitroso – là chất tiền ung thư. Nước nhiễm amoni còn nghiêm trọng hơn nhiễm asen rất nhiều vì amoni dễ dàng chuyển hoá thành chất độc hại, lại khó xử lý.
Phương pháp xử lý Amoni tron nước:
•    Phương pháp 1: phương pháp Clo hóa
•    Phương pháp 2: phương pháp làm thoáng
•    Phương pháp 3: phương pháp trao đổi ion
•    Phương pháp 4: phương pháp sinh học
he-thong-xu-ly-amoni
 
HỆ THỐNG TRAO ĐỔI ION ĐỂ LOẠI BỎ AMONI